Thương phiếu (Commercial Paper) là một loại giấy tờ có giá xác nhận nghĩa vụ trả nợ (gồm tiền và thời hạn trả) do người mua phát hành hoặc người bán lập ra để yêu cầu người mua thanh toán tiền mua hàng hóa hoặc các dịch vụ thương mại.
Hiểu một cách đơn giản nhất, thương phiếu chính là một hình thức “ghi nợ thương mại” bằng văn bản, có giá trị pháp lý, được sử dụng rộng rãi trong quan hệ mua bán chịu hàng hóa giữa các doanh nghiệp.
1. Phân loại thương phiếu
Thương phiếu có hai hình thức pháp lý phổ biến nhất:
-
Hối phiếu đòi nợ (Bill of Exchange / Draft):
-
Bản chất: Là mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do người bán (hoặc người chủ nợ) lập, yêu cầu người mua (hoặc con nợ) phải thanh toán một số tiền nhất định vào một thời điểm cụ thể trong tương lai cho một người được chỉ định.
-
Ví dụ: Công ty A bán nguyên vật liệu cho công ty B (mua chịu). Công ty A phát hành hối phiếu yêu cầu công ty B sau 30 ngày phải trả tiền.
-
-
Lệnh phiếu (Promissory Note):
-
Bản chất: Là cam kết trả tiền vô điều kiện do người mua (con nợ) lập và ký phát, tự nguyện hứa sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (người bán) vào một thời điểm xác định.
-
Ví dụ: Công ty B tự viết lệnh phiếu cam kết với công ty A rằng sẽ thanh toán số tiền mua hàng đúng hạn sau 1 tháng.
-
2. Đặc điểm chính của thương phiếu
-
Tính trừu tượng: Trên thương phiếu thường chỉ ghi nghĩa vụ trả tiền (ví dụ: “Phải trả số tiền X…”) mà không cần ghi rõ nguyên nhân, hợp đồng kinh tế nào dẫn đến khoản nợ đó.
-
Tính bắt buộc trả tiền: Người có nghĩa vụ trả tiền (người ký lệnh phiếu hoặc người chấp nhận hối phiếu) bắt buộc phải trả tiền khi đến hạn, không được viện dẫn các lý do tranh chấp thương mại ngoài đời thực để từ chối thanh toán.
-
Tính chuyển nhượng: Thương phiếu có thể được chuyển nhượng quyền thụ hưởng từ người này sang người khác thông qua hình thức ký hậu (endorsement). Do đó, thương phiếu có thể được xem như một loại tài sản lưu thông có tính thanh khoản trong thương mại.
3. Vai trò của thương phiếu trong kinh tế
-
Thúc đẩy mua bán chịu (tín dụng thương mại): Giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, giải quyết bài toán thiếu vốn lưu động ngắn hạn khi chưa có ngay tiền mặt.
-
Công cụ tái cấp vốn: Các doanh nghiệp có thể đem thương phiếu chưa đến hạn đi chiết khấu (bán lại cho ngân hàng thương mại để lấy tiền mặt trước, chịu một phần phí chiết khấu) nhằm xoay vòng vốn kinh doanh nhanh chóng.
-
Giảm thiểu rủi ro thanh toán: Tạo ra chế tài pháp lý ràng buộc chặt chẽ hơn so với việc ghi nhận công nợ miệng hoặc qua hóa đơn thông thường.
